• Giới thiệu

  • Tự họa

    Mùa xuân mơ ước Giả dụ như em là mặt trời Anh sẽ xin làm trái đất Tự quay quanh mình và quay quanh em Quay quanh mình Để mỗi ngày sẽ được nhìn em Quay quanh em Để mỗi năm làm thơ yêu mùa xuân mơ ước Cuộc đời dù xuôi ngược Anh vẫn đợi chờ Cho mùa xuân đi tới Để mùa đông đi qua Không còn mưa bay nhạt nhòa trong trí nhớ Khi mùa xuân tới Tình ta sẽ vời vợi Thơ sẽ bay – nắng sẽ ấm – chim sẽ ca – hương sẽ thơm Ngào ngạt trong tim Và em yêu dấu ơi! Suốt cuộc đời Chắc không còn gì đẹp hơn Bằng những mùa xuân mơ ước Vậy em hãy làm mặt trời Để anh được làm trái đất KHẮC MINH
  • Chọn đề mục

  • Bài viết mới

  • Đọc nhiều nhất

  • Lưu trữ

  • Bình luận

    Nguyen Hung Dung on Phan Nhự Thức
    Nguyễn Hùng Dũng on Phan Nhự Thức
    Quảng Ngãi Quê hương… on Quảng Ngãi Quê hương tôi…
    Cõi tình xuân – thơ… on Cõi tình xuân – thơ Phan…
    ginahoang on Hoàng Hương Trang
    khacminh on 4 ĐOẢN KHÚC EM – thơ Ngu…
    khacminh on Đêm nằm ở quê vợ nghe tiếng ển…
    TRANG KỶ NIỆM LÊ VĂN… on Phan Nhự Thức
    Phan Nhự Thức và Tạp… on Phan Nhự Thức
    Chùm thơ Bùi Văn Can… on Chút tình thơ cho buổi ấy – th…
  • Tháng Tám 2014
    M T W T F S S
    « Jul   Sep »
     123
    45678910
    11121314151617
    18192021222324
    25262728293031

Tiếng oan dậy đất – Trần Trọng Cát Tường

(…) những cuốn sách được làm ra để liên kết người ta với nhau vượt ra ngoài cái chết và để bảo vệ cho chúng ta chống lại kẻ thù ác nghiệt nhất đời: đó là sự lãng quên (Stefan Zweig)([1]).

 

Sách vở là kho tri thức vô tận, là tài sản quý báu nhất của con người và lưu truyền suốt chiều dài lịch sử, từ mảnh đất sét thô giản 4.000 năm trước cho đến sách điện tử thời kỹ thuật số hôm nay. Tuy vậy, phận sách cũng thăng trầm theo những trang huyết lệ của thời cuộc. Không ai không biết cái họa văn tự phần thư, thảm cảnh đốt sách gần như độc nhất vô nhị của bạo đế Tần Thủy Hoàng (213 trước Công nguyên). Có lẽ đây là sự hủy diệt văn hóa quy mô và sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Thư viện Alexandria huyền thoại bên bờ Địa Trung Hải, một trong bảy kỳ quan thế giới thời Cổ đại, lưu giữ hàng trăm ngàn cổ thư bằng giấy cỏ gấu quý hiếm đã cháy ròng rã ba ngày, ba đêm là điềm báo trước cho sự mở đầu của những đêm dài mờ mịt thời Trung cổ. Trong Xã hội mở và kẻ thù của nó, KR Popper triết luận, đại ý, mưu toan tạo dựng thiên đường trên mặt đất thì chỉ đem đến một địa ngục cho đồng loại mà thôi([2]). Chính thể toàn trịKhmer Đỏ hung tàn đẩy dân đen trở về đời sống mông muội trong hang động thời tiền sử. Từ những năm 1975 đến 1979, Pol Pot bất chấp mọi thứ, ngang nhiên cấm sách, đốt sách kéo cả dân tộc đến bờ vực hủy diệt văn hóa. Sách vở đốt cháy, xé nát quăng vào các ao hồ. Giới trí thức khốn đốn, bị thanh trừng, truy bức, cầm tù… Những tội ác ấy đã bị lôi ra trước tòa án lịch sử và dần mờ phai trong tâm khảm nhưng giờ đây, mỗi khi nhắc lại đều gợi lên nỗi kinh hoàng cho bao thế hệ độc giả.

Thời Đức Quốc xã (1933 – 1945), sau khi lên cầm quyền, Adolf Hitler phát động chiến dịch đốt sách điên cuồng khắp cả nước. Thuộc hạ của Goebbels lập danh sách đen, liệt kê tác giả và tác phẩm cần thiêu hủy, thuộc mọi thể loại, văn học, lịch sử, nghệ thuật, tôn giáo, triết học, giáo dục…, trước hết là những tác gia Marxist, người Do Thái, người tư tưởng hòa bình… Trong số này, rất nhiều tác giả bị yêu cầu cần đốt sạch, “không ngoại lệ”, như nhà triết học Karl Marx, nhà lý luận Marxist Karl Kautsky, các nhà văn Heinrich Mann, Erich Käestner, Erich Maria Remarque, nhà tâm phân học Sigmund Freud, hay nhà báo Kurt Tucholsky… Cả sách của những nhà khoa học tự nhiên như nhà vật lý Albert Einstein cũng nằm trong tầm ngắm. Tại hơn 100 thành phố lớn nhỏ, tại hàng chục trường đại học, thanh niên, sinh viên theo Đức Quốc xã trực tiếp mang sách ra đốt trước công chúng với những nghi thức trọng thể. Mong rằng biến cố hủy diệt văn hóa gây chấn động tinh thần ấy không bao giờ tái diễn, tháng 5 năm 1995, sau khi thống nhất đất nước, tại Berlin, người Đức khánh thành một đài tưởng niệm những đứa con tinh thần bị hủy diệt và những người bình dị không may thiệt mạng. Đài tưởng niệm là một căn hầm nhỏ rộng khoảng bốn mét vuông, bốn bức tường là những kệ sách trắng rỗng không và gắn tấm bảng kim loại, ở đó ghi điều mà nhà thơ Heinrich Heine nói từ năm 1821 như mang tính tiên tri cho nước Đức sau này: Nơi nào người ta đốt sách, họ cũng kết thúc bằng việc đốt người([3])

Trải qua bao cuộc bể dâu, nhiều phen binh lửa, những cuộc tao loạn, sách vở tan tác, đắm chìm, phải chịu mấy tang thương. Rắp tâm hủy diệt nền văn hóa nước Việt, Hoàng đế Minh Thành tổ ra lệnh tướng Trương Phụ thu vét và tiêu hủy cho kỳ hết sách vở của người Việt: (…) phá hủy tất cả sách vở bản in (trừ sách vở và bản in về đạo Phật, đạo Lão) cho đến những sách chép tay, những câu ca lý trong dân gian, những sách dạy trẻ nhỏ v. v… đều phải hủy hết, không để sót một câu một chữ, trừ những tấm bia do người Trung Quốc dựng lên từ trước thì không phá, còn tất cả những tấm bia do người An Nam dựng lên, đều phá hủy bằng hết…([4]). Bậc học thức tài danh các đời đều than thở trước thực trạng văn hóa bị hủy hoại đến tận gốc rễ. Năm 1479 (Kỷ Hợi), trong biểu dâng sách Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên nghẹn uất kêu lên (…) Giáo mác đầy đường, đâu chẳng bọn cuồng bạo giặc Minh; sách vở cả nước đều thành tro tàn tai họa. Muốn tìm sự tích trong dấu than tro, khó tránh phân biệt “hợi-thỉ” đúng sai (…)([5]). Trải qua bao cuộc nội chiến đẫm máu, cộng với sự tàn phá thiên tai nặng nề, bao sách vở chung số phận tro bụi cùng cung điện. Trong lời tựa của sách Văn tịch chí, tự hào về nền văn hóa phát triển có bề dày lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, sử gia Phan Huy Chú xót xa: (…) như cuối đời Trần bị nạn giặc Minh, sách vở đã bị mất một lần trước (khi nhà nhuận Hồ thất thủ, tướng Minh là Trương Phụ thu lấy cả sách vở cổ kim đưa về Kim Lăng); đầu đời Lê gặp loạn Trần Cảo, sách vở lại tiêu tán một lần sau (cuối niên hiệu Hồng thuận – triều Tương Dực – Trần Cảo làm loạn, kinh thành thất thủ, sĩ dân tranh nhau vào các nơi cung cấm, dinh thự, lấy tiền của, đem văn thư, sách vở ném ra đầy đường). Từ thời Trung hưng về sau, tuy đã tìm tòi, nhưng khi đã tản mát đi thì thu thập lại được cũng khó (…)([6])

Và bước sang thế kỷ XX, câu chuyện lặp lại. Đốt sách và vứt sách thường xảy ra trong những phen thay đổi sơn hà. Mùa thu năm 1945, ngay sau khi Bảo Đại tuyên cáo thoái vị, chế độ quân chủ vĩnh viễn chấm dứt thay thế bằng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dân chúng vào Tàng thư lâu lấy sách, chủ yếu là sách Hán Nôm in trên giấy bản, giấy quyến, đem bày bán khắp chợ Đông Ba([7]). Sách tàn, giấy cũ rơi trắng những con đường trong kinh thành. Mộc bản chẻ làm củi đun nước pha trà, châu bản đem làm giấy chụm lửa, hút thuốc. Rồi cuộc chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ. Tiêu thổ kháng chiến. Thư viện Viện Văn hóa (tập hợp từ các Thư viện Hành chính Tòa Khâm sứ, Thư viện Nội các, Thư viện Viện Cơ mật, Thư viện Bảo Đại…) di chuyển về làng Hiền Lương, cách thành phố Huế 20 cây số khiến cho bao nhiêu báu vật, sách vở thất tán khắp nơi hoặc hóa thành tro bụi, trăm phần không còn một([8]).

Việc tàn phá di tích và thiêu hủy sách vở trong cải cách ruộng đất những năm 1950 là tổn thất to lớn cho di sản văn hóa đất nước. Đền đài bị đập phá, miếu mạo bị hủy hoại. Sách vở chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ rồi những giấy tờ nhỏ nhặt như khế ước, trích lục, địa bạ… đều bị xem là lỗi thời, tàn dư của đế quốc phong kiến, chẳng có giá trị gì vì mấy ai đọc được và có đọc thì cũng chẳng hiểu gì… và đem cho ngọn lửa vô minh thiêu hủy. Những tiếng thở dài ai oán. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thạch Giang còn nhớ lời kể từ người cháu xa đời của Nguyễn Du về cuốn gia phả và bản Kiều được xem gia bảo của dòng họ trâm anh thế phiệt Nguyễn Tiên Điền, giữ lại được là nhờ “lấy trộm trong đống sách đang bị đốt ở nhà cụ Nghè Mai”([9]). Mộng thương Thư trai của gia đình Nguyễn Đổng Chi, một trong hai thư viện giàu sách tại Hà Tĩnh, bị tịch thu (thư viện còn lại là Phúc Giang Thư viện của dòng họ Nguyễn Huy), không phải đưa vào thư viện quốc dân mà để trẻ con xé nát làm cờ quạt rải khắp đồng([10]). Hình như những gì là âm vang truyền qua các thời đại đều phải gạt bỏ.

Sách vở bị thiêu hủy không phải chỉ do ngọn lửa vô tình trong áng can qua mà còn do con người muốn cho mọi thứ đi vào lãng quên. Năm 1975. Đất nước thanh bình. Câu chuyện tiếp diễn. Biết bao việc xảy ra, biết bao điều đưa đến làm tái tê lòng người. Giữ sách nhiều khi lại là cái họa, nếu phát hiện tàng trữ sẽ bị tịch thu. Trong di cảo vừa ấn hành, Vương Hồng Sển, một người tri âm tri kỷ với sách vở, nhắc lại nỗi niềm phận mỏng cánh chuồn của những cuốn sách quý. Làm sao không khỏi bâng khuâng, tiếc nuối: (…) Từ sau 30-4-75, trữ sách bỗng thành mối họa, lớn hay nhỏ, tùy thương hay ghét. Cũng một cuốn sách khi bắt, gặp lúc thương thì tịch thu trơn và tha người giữ sách, mất của mà không khổ thân, khi khác gặp lúc ghét, lại tùy cuốn sách kể là dơ hay sạch (…) và (…) Từ ngày sách bị hốt, bị tịch, người trong Nam nầy, ít nhà còn dám trữ sách: sách hay, sách quí, sách dạy nghề, sách chỉ thuốc uống, hàm-bà-lằng (tất cả), đều gởi vào lò ông Táo, hoặc nhờ chị đi mua dạo chở về lò giấy hay nạp cho Ba Tàu đầu nậu bán ve chai và sách báo cũ (…)([11]). Trong quá trình đi tìm tư liệu (ảnh chân dung, thẻ nhà báo, các tác phẩm đã xuất bản và di cảo) về bà Huỳnh Thị Bảo Hòa, người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết (tác giả cuốn Tây phương mỹ nhơn (luân lý tiểu thuyết), Nhà in Bảo tồn, Sài Gòn, 1927), Thy Hảo Trương Duy Hy gặp tình cảnh người nặng lòng với sách đành đoạn giã từ cuốn sách mình từng nâng niu, những thứ được xem là gia bảo để khỏi bị liên lụy: Điều đáng tiếc là sau năm 1975, người cho chúng tôi bài tựa sách Tuồng của bà Bảo Hòa để giới thiệu ở sách này, thuật lại rằng: bấy giờ nhà có nhiều sách nên e ngại đem đốt hoặc bán ve chai, nhưng thấy cuốn sách ấy có tấm hình đẹp (hình bà Bảo Hòa) dính liền với trang viết lời tựa nên xé lại để xem – mục đích là giữ lại tấm hình!([12]). Sách vở, giấy tờ, hình ảnh, bằng khen… những gì liên quan đến quá khứ tội tình gì mà chịu chung một kiếp.

Thời ấy, những ấn phẩm xuất bản ở đô thị miền Nam là “Nọc độc văn hóa nô dịch” hoặc “Nọc độc văn học thực dân mới Mỹ”([13]) (Kể ra thì cũng lạ, đã là nọc độc mà còn gắn với danh xưng văn hóa). Ngày 20 tháng 8 năm 1975, Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá Chính phủ Cách mạng Lâm thời, Cộng hòa miền Nam Việt Nam Lưu Hữu Phước ban hành Thông tri số 218/CT.75 cấm lưu hành sách báo phản động([14]). Theo đó, các cơ sở bị cấm toàn bộ trước hết là các bộ, các nha trực thuộc của chính quyền Sài Gòn, tiếp theo là các nhà xuất bản sách thiếu nhi. Nghĩa là tất cả ấn phẩm của Nha Văn hóa của Bộ Quốc gia Giáo dục (hay Bộ Văn hóa Giáo dục, Phủ Quốc Vụ khanh Đặc trách Văn hóa…) gồm những bản dịch, phiên âm tác phẩm Hán Nôm của cha ông (có kèm theo bản chụp nguyên tác) như KiềuĐại Việt sử ký toàn thư, Phủ biên tạp lục, Lịch triều hiến chương loại chí… đều phải thu hồi? Nghĩa là tất cả ấn phẩm của các nhàHoa hồng, Hoa mai, Tuổi thơ, Tuổi Hoa niên… dành cho thiếu nhi gồm những sách giải trí lành mạnh, rèn nhân cách, phát triển trí tuệ… bị coi là vô bổ, là thiếu giá trị giáo dục và cũng phải nằm trong bảng phong thần? Và trên thực tế, điều này đã xảy ra trước khi thông tri này ban hành. Ngay từ những ngày đầu sau khi đất nước thống nhất, Thứ trưởng Hà Huy Giáp lấy làm tiếc khi chính nhân viên ngành văn hóa tiêu hủy khá nhiều bộ sách cổ văn và những bộ tự điển giá trị([15]).

Kèm thông tri này là danh mục tác giả mà toàn bộ các tác phẩm đều bị cấm lưu hành như Bùi Giáng, Dương Nghiễm Mậu, Đinh Hùng, Hồ Hữu Tường, Nguyên Sa, Vũ Hoàng Chương… Và đặc biệt, trong danh mục sách cấm có cả Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, một trác tuyệt của nền văn học Việt Nam hiện đại. Hơn ba mươi năm rồi, chẳng rõ bao nhiêu tác giả, bao nhiêu tác phẩm trong danh mục cấm ấy chính thức được gạch tên. Chỉ biết rằng rồi lịch sử cũng công bằng và sòng phẳng, trả lại cho những tên tuổi ấy những giá trị đích thực, vĩnh hằng mà không thế lực nào có thể làm tiêu tán được. Những số phận từng bị ruồng bỏ, tưởng đã gỉ mục qua những tháng ngày bão táp, giờ đây chững chạc tìm được một chỗ đứng trong văn học sử, lừng lững trở thành một mục từ của bộ Từ điển văn học([16]). Tất cả đều được chiêu tuyết, chăm chút với những lời lẽ ưu ái, ân cần và trân trọng. 

Như đã kể, hoài niệm của tôi về một thời dĩ vãng là hình ảnh những giá sách cao phủ kín dọc theo hai bức tường, giữa lối đi như hun hút tiếp nối từ mặt đất lên đến trần nhà. Những tháng ngày sau 1975, bỗng sẩy đàn, tan nghé. Tất cả đều phải giao nộp cho Ty Thông tin Văn hóa. Từng chiếc xe ba gác chở hết lớp này đến lớp khác. Nào hồn tinh vệ biết theo chốn nào? Thôi thì, chuyển vào thư viện, cơ quan văn hóa để lưu trữ thì chẳng nói làm gì nhưng mà… Ký ức tuổi thơ non dại của tôi còn níu giữ và chắp nối được một vài hình ảnh không thật trọn vẹn về chuyện đốt sách như hội như hè tại Quảng Ngãi mà chưa đủ lớn khôn hiểu được cảnh tượng này chua xót như thế nào. Những thanh niên, có lẽ không mấy chữ nghĩa hồ hởi, cuồng nhiệt săn lùng và thu gom sách báo đã đành, một số người được xem là bậc có chữ nghĩa của tỉnh lẻ này cũng tận tụy và hào hứng không kém, khệ nệ ôm từng chồng đem tiêu hủy, thế mới lạ. Còn quá bé bỏng, tôi không hiểu những cuốn sách ấy nguy hại đến mức nào nhưng vẫn còn nhớ tên tuổi mà các bậc trưởng thượng nhỏ to, lời qua tiếng lại như thể không đồng tình. Những Đào Duy Anh, Nguyễn Hiến Lê, Tự lực Văn đoàn… đều chất thành từng đống và công khai đốt tại Trường Trung học Trần Quốc Tuấn, ngôi trường tiêu biểu cho cái học vấn của Quảng Ngãi ngày ấy. Ngay cả Thanh Nghị (Hoàng Trọng Quỵ, 1917 – 1988) với những cuốn từ điển tiếng Việt([17]) cũng chịu chung số phận. Chẳng mấy ai biết tác giả giữ một trọng trách trong ngành thông tin văn hóa (thứ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa) của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, Cộng hòa miền Nam Việt Nam .

Chừng mười năm sau, trong sách báo, tôi gặp hình ảnh một người lính biết đọc sách, biết chọn sách làm thầy, làm bạn, có lần nhặt nhạnh và nâng niu từng trang sách cháy nham nhở trong khói lửa chiến tranh. Vậy mà, với cây súng trên vai và cuốn sách trong tay, tiến về Sài Gòn và vỡ òa cảm xúc trong khúc khải hoàn “Ôi! hạnh phúc vô biên, hát nữa đi em, những lời yêu thương” (Hoàng Hà), người lính ấy đành lòng tưới xăng để thiêu hủy hàng triệu con yêu tinh văn hóa của chế độ thực dân mới (…) trở thành tro trôi xuống các cống rãnh Sài Gòn cho quang đãng các doanh trại quân đội nhân dân, nhường chỗ cho những cuốn sách mới giản dị, trong lành([18]). Rồi lớn lên, những lúc trà dư tửu hậu, đàn đúm tán gẫu với các bậc đàn anh trong nghề, tôi hóng hớt được những mẩu chuyện tương tự. Như bác sĩ T. T. (giờ đây cũng là một họa sĩ được nhiều người biết tiếng) đem sách đốt ngay tại nơi được xem là thánh đường của dân học y – Y khoa Đại học đường Sài Gòn – làm sững sờ biết bao thầy thuốc thời bấy giờ.

Đã hơn ba mươi năm rồi, mọi chuyện dường như đã vùi vào quên lãng nhưng sự kiện đập phá tan tành tượng chí sĩ Lương Văn Can tại Trường Quảng Ngãi Nghĩa thục vẫn được nhắc lại khi bù khú với nhau. Có ai nghĩ đến việc làm tỏ tường điều lù mù này? Ai đã chủ trương? Ai là người thừa hành? Lẽ nào họ không biết Đông Kinh Nghĩa thục? Đông Kinh là tên gọi trước đây của Hà Nội và nghĩa thục là trường làm việc nghĩa, mở những lớp dạy học không lấy tiền. Đông Kinh Nghĩa thục phỏng theo mô hình Khánh Ứng Nghĩa thục (1868) ở xứ mặt trời mọc, chủ trương đưa tư tưởng dân chủ và văn minh phương Tây vào chấn hưng công nghệ và canh tân đất nước. Và có lẽ rất tự nhiên, họ chỉ nghĩ rằng ấy là tàn tích văn hóa đồi trụy cần bài trừ chứ làm sao biết được ấy là bậc sĩ phu khả kính Lương Văn Can, thục trưởng Đông Kinh Nghĩa thục, người để lại dấu ấn đáng tự hào trong giai đoạn giao thời của lịch sử Việt Nam.

Gần 20 năm, cho đến những năm 90 của thế kỷ trước, thú chơi sách bị xem là lạc điệu, không những vô ích mà còn nguy hiểm, một khi ấn phẩm xuất bản tại miền Nam, từ sáng tác đến biên khảo cũng như từ dịch thuật đến lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học đều là những thứ không phản động hay đồi trụy thì cũng lạc hậu. Người sống với nghề sách vở, kẻ gắn với nghiệp bút nghiên không giữ nổi tủ sách của mình. Quách Tấn cảm khái: (…) thân bị câu thúc, sách và tác phẩm lớp bị tịch thu lớp bị niêm phong(…)([19]). Nhiều tủ sách quý lao đao theo thân phận chủ nhân. E dè sóng gió hãi hùng cỏ hoa. Trước những đổi thay chạm đến cả phận sách lẫn kiếp người, Vương quân bùi ngùi trút hết những lời ruột rà cho thú phong lưu sót lại này: (…) tôi cặm cụi viết tiếp về “Thú chơi sách”, biết là một việc trái mùa, nếu không nói là lỗi thời, nhưng sách với tôi, làm sao quên nhau được (…)([20]).

Chúng ta đều lặng lẽ lớn lên qua từng trang sách nhỏ. Thú chơi sách. Thú tiêu khiển chỉ chia ngọt sẻ bùi trong góc khuất riêng tư của nhóm người nặng lòng với chữ nghĩa chứ vốn không dành cho đám đông, hội hè và cũng không hòa vào đam mê chung của thời cuộc. Nét đẹp trầm lặng giữacuộc sống náo nhiệt hôm nay, sau một thời gian tạm lắng xuống, bắt đầu nhen nhúm trở lại. Những cuốn sách xưa tìm về và yên vị trong những tủ kính sang trọng. Ở đó là tư liệu lịch sử, là bóng dáng những đứa con tinh túy, là chứng tích văn hóa từ lời ăn, tiếng nói đến đời sống tinh thần của một thời đã qua…

 

 

[1] Stefan Zweig. Menđen, người bán sách cũ. Trong: Bức thư của người đàn bà không quen(tập truyện ngắn, truyện vừa). Dương Tường, Phùng Đệ, Lê Thi dịch, Vũ Dương Khư tuyển chọn. Nxb Phụ nữ. Hà Nội. 2000: 143 – 74.

[2] KR Popper. The open society and its enemies. Volume I: Spell of Plato. George Routledge & Sons Ltd. London. 1947: 148.

[3] Kim Dung. Những kệ sách trắng. Sài Gòn Tiếp thị. 11-7-2011. 77: 16.

[4] Việt kiện thư. Lý Văn Phượng sưu tầm, Lê Thước trích dịch. Phòng Bảo tồn Văn vật, Bộ Văn hóa. Dẫn theo: Trần Mai, Trần Tất Thắng. Nghề thư viện. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. 1986: 34.

[5] Đại Việt sử ký toàn thư (bản in Nội các Quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697)). Tập I. Nguyễn Khánh Toàn giới thiệu, Phan Huy Lê khảo cứu về tác giả, văn bản, tác phẩm, Ngô Đức Thọ dịch, chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1998: 101.

[6] Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí. Tập IX: Văn tịch chí (quyển 42, 43, 44, 45). Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực dịch. Tủ sách Cổ văn, Ủy ban Dịch thuật, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên. Sài Gòn. 1974: 8.

[7] Đào Duy Anh “Tôi đã mang tội để mất những tư liệu quý về Nguyễn Trường Tộ như thế nào?”, tuần báo Công giáo và Dân tộc, số 313 – 315, ngày 12-7-1981. Dẫn theo: Trương Bá Cần. Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871). Tập I: Con người. Trung tâm Nghiên cứu Hán Nôm. Thành phố Hồ Chí Minh. 1991: 196 – 202, Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo. Tái bản lần 1 có sửa chữa. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. 2002: 574 – 9.

[8] Toan Ánh. Thư viện Việt Nam (tiếp theo). Nghiên cứu Văn học. 1971. 3: 3 – 20.

[9] Nghè Mai, tức Nguyễn Mai, một trong những ông nghè cuối cùng của dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Sinh năm Bính Tý (1876), ông đậu cử nhân năm Canh Tý (1900), rồi tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904, niên hiệu Thành Thái thứ 16). Xem: Tử Phát Cao Xuân Dục. Quốc triều đăng khoa lục. Trúc Viên Lê Mạnh Liêu dịch. In lần thứ nhất. Bộ Quốc gia Giáo dục. Sài Gòn. 1962: 242 – 3, Nguyễn Thạch Giang, Tôn Thất Bằng. Mùa thu – tình yêu và thơ ca. Trong: Nguyễn Thạch Giang. Lời quê chắp nhặt. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2001: 69.

[10] Nguyễn Hưng Chi. Vài ký ức về anh tôi. Trong: Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Tập 5. In lần thứ hai. Nxb Văn học. 1993: 2653 – 93.

[11] Vương Hồng Sển. Cuốn sách và tôi thú phong lưu sót lại (di cảo), Sđd, trang 103, 74.

[12] Thy Hảo Trương Duy Hy (sưu tầm, biên soạn). Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, người viết tiểu thuyết đầu tiên. Nxb Văn học. Hà Nội. 2003: 21. Bìa sách ghi Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa, người phụ nữ viết tiểu thuyết đầu tiên.

[13] Chẳng hạn, Chính Nghĩa. Nọc độc văn hóa nô dịch. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. 1984, Trần Trọng Đăng Đàn. Nọc độc văn học thực dân mới Mỹ. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. 1983.

[14] Dẫn theo: Trần Trọng Đăng Đàn. Văn hóa văn nghệ phục vụ chủ nghĩa thực dân mới Mỹ tại Nam Việt Nam 1954 – 1975. Nxb Thông tin, Nxb Long An. Hà Nội, Long An. 1990: 618 – 9.

[15] Hồi kí Nguyễn Hiến LêSđd, trang 518.

[16] Xem: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu (chủ biên) và TGK, Sđd, trang 162 – 3, 358 – 60, 423 – 4, 636 – 7, 1101 – 2, 1229 – 30, 2024 – 5, 1705 – 7.

[17] Thanh Nghị. Việt Nam tân từ điển minh họa. Khai trí. Sài Gòn. 196?.

[18] Phạm Hồng. Sách với chiến sĩ. Trong: Từ những trang sáchSđd, trang 50 – 2.

[19] Quách Tấn. Vũ Hân – đời và thơ (hồi ký). Trong: Nhà giáo Vũ Hân một đời thơ. Quách Giao sưu tầm, biên soạn. Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa. Nha Trang. 2002: 7 – 42.

[20] Vương Hồng Sển. Cuốn sách và tôi thú phong lưu sót lại (di cảo), Sđd, trang 87.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: